Phổ Biến 6/2024 # Ý Nghĩa, Công Năng, Lợi Ích Hành Giả Trì Chú Đại Bi # Top 7 Yêu Thích

Lời nói đầu:

Ngày 19/02 là vía Quán thế Âm Đản Sanh.

Ngày 19/06 là vía Quán thế Âm Thành Đạo.

Ngày 19/09 là vía Quán thế Âm Xuất Gia.

Chú Đại Bi được

rút ra từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni của Phật Quán Thế Âm. Gọi tắt là Chú Đai Bi.

Chú Đại Bi có thảy là 84 câu, 415 chữ.

Định nghĩa từ Bồ Tát Giải thích về Chú Đại Bi.

: Là hiển bày ra ý

nghĩa và chân lý trong Kinh để hành giả tụng niệm, hoặc nghiên cứu theo đó áp

dụng tu tập, thì gọi là: “Tụng Kinh minh Phật chi lý,” để hiểu biết công năng

của câu kinh và câu chú gọi là phần hiển. Ví dụ: Kinh Bát Nhã phần hiển từ

“Quán tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã cho đến câu…..Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết”: phần

mật là phần câu chú: “Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề.

Tát bà ha”

Kinh Lăng Nghiêm: phần tựa là từ “Diệu Trạm Tổng….cho đến hết lời tựa là phần hiển còn phần mật là 5 đệ Lăng Nghiêm

: “” câu Kinh này là phần hiển giải thích công năng và diệu

dụng của 84 câu Chú ở sau, để giúp hành giả hiểu mà hành trì cho đúng mới có

hiệu nghiệm.

Còn phần mật của Chú Đại Bi là phần “câu

Chú” từ câu chú “tâm đà la ni cho đến câu 84. Ta bà ha” phần câu Chú là phần ẩn

nghĩa chỉ là phạn ngữ chỉ có chư Phật mới thấu hiểu còn hàng phàm phu không

hiểu ý nghĩa, chỉ biết công năng và lợi ích để hành trì.

Giải thích phần hiển: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại Đại bi”

Câu Kinh này là phần hiển muốn nói về Ngài

Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Phật Chuẩn Đề có nghìn tay, nghìn mắt, trong

mỗi tay có một con mắt và mỗi tay cầm mỗi khí cụ khác nhau. Vì thế trong Phát

Bồ Đề Tâm Luận của Bồ tát Thiên

thân nói rằng: ” Bồ tát phát

tâm lấy lòng từ bi làm đầu. Lòng đại từ của bồ tát vô lượng vô biên nên sự phát

tâm cũng vô lượng vô biên mênh mông như chúng sanh giới. Như hư không giới,

không chỗ nào là không cùng khắp, sự phát tâm của Bồ Tát cũng như thế, vô lượng

vô biên không có cùng tận ” [1]

Trong Kinh Duy

Ma Cật đức Phật dạy rằng: ” Người có trí

không nên so sánh với các hàng Bồ Tát. Biển sâu còn có thể dò được, chớ thiền định,

trí tuệ, tổng trì, biện tài, tất cả công đức của Bồ Tát không thể đo lường được ”

[2]

Nếu hành giả thực hành con đường Bồ Tát hạnh

vào đời độ sinh, chỉ có từ bi mà không có trí tuệ, khi gặp chướng duyên dễ bất

thối tâm bồ đề, và sự việc hoằng Pháp độ sinh sẽ gặp trở ngại

Như vậy chúng ta hành Bồ Tát đạo múc đích cứu

độ chúng sinh, nhưng ngược lại gây hại đau khổ thêm cho chúng sinh và chúng ta

lại vi phạm tinh thần Bồ Tát giới, chẳng những tự mình không uống rượu còn cấm cấm

bán rượu: ” Nếu Phật tử, tự

mình bán rượu, bảo người bán rượu: Nhân bán rượu, duyên bán rượu, cánh thức bán

rượu nghiệp bán rượu, tất cả rượu không được bán, rượu là nhơn duyên sanh tội lỗi.

Là Phật tử, lẽ ra phải làm cho tất cả chúng sanh có trí huệ sáng suốt, mà trái

lại đem sự mê say điên đảo cho tất cả chúng sanh, Phật tử này phạm “Bồ Tát Ba

la di tội.” [3]

Như vậy chúng ta hành Bồ Tát đạo vì lòng từ bi

cần phải có trí tuệ thì chúng ta không có gặp chướng ngại (vô = không, ngại =

chướng ngại)

” Bồ tát phát tâm bằng

cách thân cận thiện tri thức, cúng dường chư Phật, tu tập thiện căn, lập chí cầu

chánh pháp, tâm thường nhu hòa, gặp khổ chịu nhẫn nhục được, từ bi thuần hậu,

thâm tâm bình đẳng, ưa thích pháp đại thừa, mong cầu được trí huệ Phật. Nếu ai

có đầy đủ mười điều nói trên mới có thể phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh

giác .” [4]

Bồ Tát phát tâm tu tập Vô thượng Bồ đề lại cần có bốn duyên;

Trong Đại Trí Độ

Luận có nói ” Bậc Bồ Tát luôn có tâm dõng mãnh bất thoái ở giữa chúng sinh

khởi đại bi tâm thành lập Đại thừa, thực hành đại đạo, thuyết Pháp phá trừ đại

tà kiến, đại phiền não, đại ái mạn, đại ngã tâm cho mình và hết thảy chúng sinh ”

Đó là tâm “Đại Bi” của Bồ Tát thật bao la rộng lớn hạnh nguyện của Ngài vô cùng

tận. “”

Vì thế trong Phổ Môn phẩm 25 trong Kinh Pháp Hoa:

Phẩm chất của Bồ Tát:

Tinh thần là Trí tuệ (nghìn mắt),

Sắc thái Đại từ bi (nghìn tay)

Bồ Tát có ba sắc thái này thì hành Bồ Tát đạo đạt đến chỗ “vô ngại”

Đó là ý nghĩa: “”

Hạnh Nguyện khác nhau của Bồ Tát:

lấy “Đại Hùng”, “Đại

Lực” để làm động cơ thú đẩy độ sinh như “Đại Hùng”, “Đại Lực” Đại Thế Chí Bồ

Tát

Lấy “Trí làm yếu chỉ như “Đại Trí” Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

Hình Tướng khác nhau của Bồ Tát:

Phần Mật: Của Chú

Đại Bi từ câu: “Tâm đà la ni” cho đến câu 84.

“Ta bà ha” là phần ẩn nghĩa, hàng phàm phu không có hiểu được Phần này, chỉ có

chư Phật mới hiểu. Như vậy, phần hiển là để chúng ta hiểu nghĩa công dụng lợi

ích của Kinh, Chú mà hành trì. Còn phần mật hành trì để tâm chúng ta thanh tịnh

và an lạc (vô ngại) niệm Chú Đại Bi là đọc xưng danh hiệu của 84 vị Hộ Pháp Kim

Cang Thần hóa thân của ngài Quan Thế Âm Bồ Tát để đối trị tiêu diệt 84 phiền

não chướng tư hoặc và lậu hoặc. Tuy thần chú là những lời nói nhiệm mầu, bí mật

của chư Phật, chư Bồ Tát ta khó thể lãnh hội được nội dung, ý nghĩa. Nhưng phần

hiển là phần giúp hành giả hiểu rõ công năng và lợi ích cho việc hành trì Chú

Đại Bi.

Công năng lợi ích hành trì Kinh, Chú:

Ngài Tuyên Hóa dạy rằng: Người trì kinh, chú

sẽ được ba nghiệp thanh tịnh, khi ba nghiệp lắng đọng thì trí huệ sinh (nhân

định tức huệ) đồng Phật vãng Tây Phương

Thân ngồi ngay thẳng trước Phật là thân thanh tịnh

Miệng không nói dối, không đùa giỡn là khẩu nghiệp thanh tịnh

Ý không tán loạn, không phan duyên đó là ý nghiệp thanh tịnh

“Mỗi niệm chân thành mỗi niệm thông

Tịch lặng cảm ứng tịch

lặng trong

Niệm Kinh Chú mục đích nhiếp phục tam nghiệp hằng thanh tịnh để trừ được ba ác nghiệp thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp

Thân nghiệp gồm ba: (Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm)

Khẩu nghiệp có bốn: (Không nói dối, không nói ác khẩu, không nói lưỡi hai chiều, không nói thêu dệt”

Ý nghiệp có ba: Tham, sân, si.

Như vậy niệm Kinh, niệm Chú, niệm Phật cũng

đều mục đích như nhau để tam nghiệp hằng thanh tịnh. Khi tâm mình thanh tịnh

tức tâm bình, tâm bình tạo ra thế giới bình ” tướng tự tâm sanh, ” mây tan thì trăng tự nhiên hiển bày tỏa sáng.

Cách trì Chú Đại Bi có nhiều cách:

* Tụng

nhanh, lớn tiếng, đọc rõ ràng, âm thanh trầm hùng, mục đích khỏi buồn ngủ tránh

giải đãi, tránh tâm tán loạn. Nhờ âm thanh trầm hùng đó tạo nên sự mầu nhiệm đánh

thức tâm Bồ đề của mình và những người xung quanh.

Cho nên khi tụng Chú Đại Bi trong Đại chúng,

bao giờ cái tâm của mình cũng phấn khởi, nghe mầu nhiệm hơn là tụng một mình. Cách

tụng này dễ dàng cho những người mới hành trì Chú Đại Bi

* Niệm

thầm: Chữ niệm được ghép hai chữ kim có nghĩa hiện tại, bây giờ. Nó được

nằm trên chữ tâm, như vậy chữ niệm là cái gì đó hiện diện nay trên một khoảnh

khắc của ý thức Phật giáo gọi là sát na, vì thế niệm thầm còn gọi là: “Duy niệm”

tức là niệm không ra tiếng, ngồi niệm bằng cách tư duy quán tưởng nhớ nghĩ từng

câu chú ngay lúc đó, cách niệm này rất khó cho những người mới tập niệm, dễ sinh

chán nản, buồn ngủ và giải đãi, tâm dễ tán loạn khó hành trì, cách niệm này

dành cho những vị hành trì lâu năm

Niệm vô niệm niệm đồng nghĩa vô

niệm tức là niệm, “vô niệm” có hai ý “vô tướng” và “vô trụ” vì thế Ngài Lục Tổ

Huệ Năng nói:

Tức là hành giả đừng để tâm mình bị ô nhiễm

tức phan duyên theo “trần cảnh”* tức là ngay lúc niệm của mình thường lìa cách

cảnh, đừng để tâm mình lay động chạy theo trần cảnh, niệm là niệm bản thể của

tâm “Chân Như” đó là chơn niệm, trong tâm luôn

có niệm, nhưng về cơ thể thì ‘vô niệm.’ Khi đầy tâm rồi thì mỗi cử động của Tâm

đều là niệm (niệm nhập tâm) Thế là niệm đến chỗ vô niệm: thì bấy giờ đạt đến trạng

thái nhất tâm bất loạn. Đó là chơn niệm vậy

Trí Giải

Chú thích:

[1] Phát Bồ Đề Tâm Luận: Phẩm thứ nhất Khuyến Phá. Bồ tát Thiên thân tạo, Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch Phạn văn ra Hán văn, HT Thích Trí Thủ dịch Hán văn ra Việt văn 1962

[2] Kinh Duy Ma Cật: Phẩm Bồ

Tát Hạnh. Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu

Ma La Thập vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa Dịch giả: Thích

Huệ Hưng

[3] Giới thứ năm cấm bán rượu trong Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh

[4] [5] (xem giải thích 4 duyên trong Phát Bồ Đề Tâm

Luận: Phẩm thứ hai Phát tâm.Bồ

tát Thiên thân tạo, Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch Phạn văn ra Hán văn, HT Thích

Trí Thủ dịch Hán văn ra Việt văn 1962

[7]

Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Định Huệ 4:

無 相 於 相 而

*”Trần

cảnh” nghĩa là khác trần là môi trường xung quan, cảnh trần làm nhiễu loạn tâm,

đối nghịc với tâm

( CÙNG TÁC GIẢ)