Xu Hướng 6/2024 # Bạn Cần Hiểu Kết Quả Xét Nghiệm Cơ Bản Về Máu Và Nước Tiểu Như Thế Nào? # Top 5 Yêu Thích

Quả tim mỗi phút đẩy 5 lít máu trong mạch máu đi con người đi nuôi các tế bào. Mỗi ngày, có đến 180 lít máu chảy qua thận. Vì vậy, máu và nước tiểu là hai xét nghiệm làm phổ biến khi bạn đi khám bệnh, nó giúp chẩn đoán tình trạng làm việc của hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa và bài tiết cũng như hệ miễn dịch của cơ thể.

Bạn chắc đã có lúc được bác sỹ cho đi làm xét nghiệm máu và nước tiểu? Trên kết quả xét nghiệm có ghi các ký hiệu bằng tiếng Anh hay Ba lan. Bài báo này giúp bạn hiểu ý nghĩa của chúng, mỗi thành phần là gì, khi thành phần đó cao hay thấp thì cơ thể có gì không bình thường, bạn có thể mắc bệnh gì?… Nhiều trường hợp có những người có bệnh nhưng coi thường hoặc không có hiểu biết, nên khi đi khám bệnh thì đã ở tình trạng muộn hay quá muộn. Xin nói trước là nó chỉ giúp bạn biết khi nào là có sự bất thường trong cơ thể, bạn không nên tự chữa bệnh mà phải đi khám bệnh, chỉ có bác sỹ trên cơ sở của xét nghiệm và tình trạng cơ thể mới chẩn đoán và điều trị thích hợp. Nhất là nếu bạn không có bảo hiểm sức khỏe thì tự làm xét nghiệm trước rồi mới đăng ký đi khám bác sỹ sẽ giúp bạn tiết kiệm về thời gian và tài chính (bạn sẽ không phải trả tiền hai lần khám!). Các xét nghiệm này người ta làm thu tiền ở mọi cơ sở y tế (kể cả khi bạn có bảo hiểm nhưng không muốn đợi giấy giới thiệu của bác sỹ gia đình, hoặc muốn tự kiểm tra), có những hãng còn đến lấy bệnh phẩm và trả kết quả tận nhà.

Tôi gần đây do hay đi khám nên có đọc tìm hiểu và thu thập được một số thông tin. Bài viết chủ yếu dựa vào một phụ trương cũ của tờ POLITYKA và các trang Internet. Một số từ chuyên môn tôi viết thêm tên tiếng Anh và Ba lan trong ngoặc cho bạn đọc tiện theo dõi hay cho những ai muốn tự tìm hiểu sâu hơn. Có chỗ nào không chính xác mong các bạn học các ngành Y Dược bổ sung, xin cảm ơn.

Bài báo có các nội dung chính sau:

– Các xét nghiệm cơ bản máu và nước tiểu

– Các xét nghiệm khác: tiểu đường, hẹp tắc mạch máu, tình trạng làm việc của gan, tụy và thận, xét nghiệm sinh hóa của máu, xét nghiệm hooc-môn, các nguyên tố hóa học…

– Các dấu hiệu khi nào bạn cần đi khám bác sỹ

– Nên làm xét nghiệm khi nào, bao nhiêu lâu cần làm một lần?

Xét nghiệm cơ bản máu:

Trước khi làm xét nghiệm máu ít nhất ta không nên ăn trong vòng mười tiếng. Xét nghiệm máu hiện làm trên các máy tự động gồm:

Công thức máu (morfologia krwi): xác định định lượng các thành phần của máu (hồng cầu, bạch cầu..) và một số tính chất của chúng (ví dụ như độ lớn, lượng hêmôglôbin) trong mẫu thử máu thường lấy ra từ mạch máu gần khuỷu tay. Nó cho ta biết cơ thể có gì bất thường không: bị nhiễm trùng, bệnh ung thư máu (tiếng Anh và Ba lan: leukemia, białaczka) … Ngoài số lượng hồng cầu, bạch cầu người ta còn đếm số lượng bạch cầu trung tính (neutrofil) và bạch huyết bào (limfocyty).

Quan sát lớp máu mỏng trên kính dưới kính hiển vi (rozmaz krwi): khi kết quả xét nghiệm công thức máu có bất thường và nghi ngờ có bệnh ung thư máu thì người ta lấy một giọt máu để trên một tấm kính, dàn mỏng máu thành một lớp màng, nhuộm màu rồi quan sát dưới kính hiển vi để xác định hoặc loại trừ mắc bệnh này.

Chú ý:

– Với trẻ em từ 3 tháng đến 4 tuổi có số liệu về máu khác với số liệu trung bình của trẻ lớn tuổi và người lớn nên cần thận trọng khi xem kết quả.

– Chỉ có bác sĩ mới có chuyên môn để đánh giá đúng kết quả xét nghiệm.

– Chỉ một xét nghiệm có kết quả không bình thường không đủ để đưa ra chẩn đoán chính thức. Đó chỉ là tín hiệu để lặp lại xét nghiệm, nếu kết quả các lần sau vẫn không bình thường thì bác sỹ mới quyết định điều trị.

– Các ký hiệu đơn vị sử dụng:

+ M/µl một triệu (milion, 10 6) trong một micro lít (một milimét khối)

+ G/l một tỷ (giga, 10 9) trong một lít

+ K/µl một nghìn (kilô, 10 3) trong một micro lít (một milimét khối)

+ T/l một nghìn tỷ (teta, 10 12) trong một lít (một đềximét khối)

+ mg/dl miligram trong một đềxilít (hay 100 mililít) , có khi ghi là mg%

+ fl femto lít (10-15 lít)

+ pg pikogram (10-12 g)

+ mmol/l, µmol/l, nmol/l: mili-, micro-, nano mol trong một lít (mol là đơn vị đo lường dùng trong hóa học nhằm diễn tả lượng chất có chứa 6,02×10 23 hạt đơn vị (hằng số Avogadro)).

+ IU (tiếng Ba lan: j.m.): đơn vị quốc tế.

Bạn cũng không cần phải nhớ các đơn vị này. Thông thường trong kết quả xét nghiệm ta chỉ cần so với chuẩn cho ở đó là đủ. Đôi khi họ ghi chữ H (viết tắt chữ high), dấu mũi tên … đi lên tức là cao hơn chuẩn; hoặc chữ L (viết tắt chữ low), dấu mũi tên đi xuống… nghĩa là thấp hơn chuẩn.

Cần hiểu kết quả xét nghiệm ra sao? Xét nghiệm cơ bản nước tiểu

Xét nghiệm này cho ta thông tin không chỉ về hoạt động của thận, mà qua đó gián tiếp ta còn biết về hoạt động của các bộ phận khác (ví dụ gan và tụy). Nó cũng cho ta biết trong hệ thống bài tiết nước tiểu có viêm nhiễm không.

Thành phần nước tiểu gồm:

– các hợp chất urê do kết quả quá trình trao đổi chất: 2,5%

– muối khoáng và các chất vi lượng (làm nước tiểu có màu và mùi): 1,5%

Khi nào nước tiểu nằm trong chuẩn?

1,002-1,030 g/cm Trọng lượng riêng (ciężar właściwy): 3 hoặc 1002-1030g/l. Giá trị thấp hơn có thể do nước giải loãng quá (do uống nhiều nước) hay thận có bệnh. Giá trị cao hơn chứng tỏ trong nước tiểu có mặt các thành phần không bình thường (đường, đạm), nhưng cũng có thể do đi ngoài lỏng hay bị nôn (do cơ thể mất nước nên nước tiểu đặc lại).

Có thể có gì nữa trong nước tiểu?

(leukocyty): 1-5 trong tầm quan sát, nếu số này nhiều hơn 10 thì trong cơ thể có tình trạng viêm.

(erytrocyty): đơn lẻ: từ 1-2 trong vùng quan sát. Sau khi làm việc chân tay nặng nhọc, hoặc trong khi dùng loại thuốc chữa bệnh gây giảm độ đông máu thì con số này có thể cao hơn. Cũng có thể nghi vấn có bệnh nặng hơn như sỏi thận, ung thư hay viêm thận.

Tinh thể khoáng chất (składniki mineralne): chủ yếu là canxi, nếu nhiều quá thì có thể chớm bị sỏi thận.

Trong nước tiểu không nên có những gì?

(białka, protein): nếu có có thể do bị bệnh thận, sốt cao, hệ bài tiết làm việc không chuẩn hay có sự viêm nhiễm (chú ý: sau lao động chân tay nặng, khi thời tiết thay đổi đột ngột hay khi có mang ở các tháng cuối cũng có thể có chất đạm trong nước tiểu).

(ciał ketonowe, aceton): đó là các sản phẩm của quá trình chuyển hóa axit amin và axit béo. Khi có trong nước tiểu có thể do chữa bệnh tiểu đường chưa hợp lý, cũng có thể do bị sốt cao, lao lực hay ăn kiêng nhiều quá (tự bỏ đói mình).

– Tránh ăn kẹo cao su, uống rượu hay dùng nhiều chè, cà phê.

– Tránh ăn các thức ăn có nhiều đạm và có màu (ví dụ củ cải đỏ (buraki), cà rốt), và không làm việc chân tay quá mức.

– Phụ nữ cần nói với bác sỹ nếu bạn đang gần sát hay trong khi có kinh nguyệt, có khi lúc đó phải hoãn sang lúc khác.

– Có thể phải ngừng uống một số thuốc do bác sỹ quy định, dừng uống các loại vitamin

Cách lấy mẫu:

– mua hôp mẫu thử nước tiểu ở hiệu thuốc.

– rửa sạch tay trước khi lấy mẫu

– rửa sạch bộ phận sinh dục, đặc biệt nơi nước tiểu chảy ra

– mở nắp hộp, tránh động tay vào thành trong của hộp đựng nước tiểu

– chỉ lấy mẫu nước tiểu lần đi tiểu đầu tiên vào buổi sáng, ít nhất là sau lúc 3h sáng. Bỏ đi một ít lúc đầu và lúc cuối, khi đó nước tiểu có đủ độ đặc để cho kết quả chính xác. Không để bộ phận sinh dục chạm vào hộp.

– Đậy nắp kín và mang nó trong vòng một giờ từ khi lấy đến chỗ thử, nếu thời gian lâu hơn cần đậy chặt nút và để vào tủ lạnh, tránh để ra chỗ có ánh nắng mặt trời.

Nguyễn Hữu Viêm